Trang

++ CHÙA A DI ĐÀ KÍNH CHÚC QUÍ VỊ MỘT NGÀY AN VUI. http://chuaadida.blogspot.com nay được đưa về trang nhà chuaadida.com. KÍNH MỜI QUÍ VỊ HOAN HỶ GHÉ THĂM TRANG NHÀ chuaadida.com và chia sẽ mọi người cùng biết. Cảm Ơn " ++
++ Thật hạnh phúc cho những ai biết cho mà không hề nhớ đến, biết nhận mà không hề quên đi. -- Đừng đau khổ với những gì mình không có, hãy biết vui với những gì mình đang có trong tay. -- Giá trị đích thực của sự cho đi không nằm ở món quà lớn hay nhỏ, mà nằm ở tầm lòng của người cho. -- Có 3 cách để tự làm giầu cho mình: mỉm cười, cho đi, và tha thứ. -- Tức giận là cơn lốc xóa đi mọi sự thông minh. -- Thành công lớn nhất là đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. -- Phải ăn để sống chứ không phải sống để ăn. -- Một nụ cười có thể thay đổi một ngày. Một cái ôm có thể thay đổi một tuần. Một lời nói có thể thay đổi một cuộc sống. -- Đừng bao giờ cau mày hay nhăn mặt thậm chí khi bạn đang buồn. Chắc chắn sẽ có ai đó yêu bạn chỉ vì nụ cười của bạn thôi. Với thế giới, bạn chỉ là một cá nhân, nhưng với một ai đó, bạn là cả thế giới. -- Sự kiên nhẫn là sức mạnh vượt qua mọi khó khăn. -- Ðừng khóc vì mọi việc đã qua, hãy cười vì mọi việc đang chờ phía trước. -- Với lòng nhân ái đôi khi vực người từ hố thẳm, Với dạ hẹp hòi đôi lúc đẩy người tận vực sâu. -- Dù xa cách mấy trùng dương Ở đâu cũng có quê hương trong lòng. -- Tiền tài biết đủ thân không nhục, Danh lợi không tham đức mới cao. -- Tiền tài rồi cũng hết, Danh lợi rồi cũng tan, Duy chỉ có lòng người, Sống mãi với thời gian. -- Có không thương ghét chẳng bận lòng, Được mất hơn thua chẳng ngóng trông, Mở rộng tâm ra lòng thanh thảng, An nhiên tự tại dạ thong dong. -- Có thành công lớn nhỏ nào, không từ kiên nhẫn mà nên++

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

TỔ SƯ BỒ ĐỀ ĐẠT MA (Bodhidharma)


1. Tiểu sử
Nếu tính từ Tổ Sư Maha Ca Diếp đời thứ nhất truyền xuống Ấn Độ, Bồ Đề Đạt Ma là vị tổ thứ 28, sang Trung Hoa, ngài là vị tổ thứ nhất Thiền Tông, ngài xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XI, khoảng 1000 năm sau Phật Niết bàn.
Ngài là người của nước Quốc Hương, thuộc Nam Thiên Trúc (De-Khan), Ấn Độ, con thứ ba của vua Hương Chí dòng Sát Đế Lợi, thuở nhỏ ngài có ý chí siêu việt và đặc tài hùng biện.
Nhân khi vua Hương Chí thỉnh tổ thứ 27 là Bát Nhã Đa La vào hoàng cung cúng dường. Trong số phẩm vật có viên bảo châu, Tổ hỏi ba vị hoàng tử:
-Trên đời này còn có vật gì quí bằng hạt châu này chăng?-Vương tử Nguyệt Tịnh Đa La, và con thứ của vua là Công Đức Đa La đều đồng ý cho rằng:  “Hạt châu ấy quí giá cùng tột, không phải trong nhà vua thì khó có được”. -Bồ Đề Đa La thưa: “Châu này của thế gian chưa đủ làm cao hơn hết, nếu so vơí Pháp bảo, nó chỉ cứu nghèo đói, không cứu được khổ sinh tử. Aùnh sáng trí tuệ hơn hẳn ánh sáng bảo châu, vì có trí tuệ người ta mới nhận ra quí báu của châu. Trong các thứ trong sạch chỉ có tâm trong sạch là hơn hết, như tâm tổ sư trong sạch sáng tỏ báu kia liền hiện. Những ai có đạo đức thì tâm cũng quí báu như thế.”
Tổ Sư khen ngợi tài biện luận của Bồ Đề Đa La và hỏi tiếp:
-Trong các vật, vật gì không tướng?
-Trong các vật, chẳng khởi là không tướng.
-Trong các vật, vật gì là tối cao?
-Trong các vật, nhơn ngã là tối cao
-Trong các vật, vật gì tối đại?
-Trong các vật, pháp tánh là tối đại.
Tổ vui lòng biết đại pháp sẽ có người xứng đáng nối dõi truyền bá lợi ích chúng sinh. Một hôm vua Hương Chí hỏi tổ:-“Tôi thấy các thầy đều tụng kinh, tại sao Tôn Giả không tụng?”-Tổ đáp:-“Tôi thở ra chẳng tiếp các duyên, hít vào không ở trong ấm giới, thường tụng kinh này trăm ngàn muôn ức quyển.”
Vua Hương Chí băng hà hoàng cung đều vang lên tiếng khóc, duy có Bồ Đề Đa La điềm tỉnh, ngồi nhập định chỗ hoàn linh cửu cha suốt bảy ngày. An táng nhà vua xong, Bồ Đề Đa La, xin phép mẹ và hai anh đi xuất gia. Thấy cơ duyên thuần thục, Tổ Bát Nhã độ ngài cho làm đệ tử, thỉnh chư tăng làm lễ thế phát và truyền giới cụ túc, tổ bảo:
-Đối với các pháp con đã được thông suốt, nên đổi hiệu là Bồ Đề Đạt Ma. Từ đấy ngài được thân cận hầu hạ bên thầy.
Bodhidharma :Bồ Đề là đạo chính giác: Đạo thông suốt, giác là ngộ chân chính, giác ngộ pháp tính. Đạt Ma là pháp, qui tắc, quỹ trì. Qui tắc là khuôn mẫu, phép tắc; quỹ trì là duy trì tư tưởng, nắm giữ ý tứ. Bồ Đề Đạt Ma, là nắm giữ phép tắc, ý tứ đạo giác ngộ của chư Phật.
Một hôm Tổ Bát Nhã Đa La gọi ngài đến truyền pháp yếu và phó chúc:
- Chánh pháp nhãn tạng của Đức Như Lai lần lược truyền trao, nay trao lại cho ngươi khéo truyền bá đừng cho đoạn dứt, nghe ta nói kệ:
Tâm địa sanh như chủng,
Nhơn sự phục sanh lý.
Quả mãn Bồ Đề viên.
Hoa khai thế giới khởi.
Dịch:
Đất tâm sanh các giống,
Nhơn sự lại sanh lý.
Quả đầy Bồ Đề tròn,
Hoa nở thế giới sanh.
Khi lãnh thụ bài kệ nói pháp và y bát, ngài Bồ Đề Đạt Ma trở thành vị tổ thứ 28 Thiền Tông, một pháp tử chân truyền, Tổ Bát nhã dặn dò:
-Con tạm giáo hóa ở nước này, sau sang Trung Hoa, mới là duyên lớn. Song đợi ta diệt độ 60 năm sau sẽ đi. Nếu đi sớm, có điều không tốt.
Những việc kiết hung về sự giáo hoá ở Trung Hoa, ngài cầu xin tổ chỉ dạy, Tổ dùng những lời sấm ký tiên đoán, xong rồi hiện các thứ thần biến thị tịch. Ngài và các đệ tử quyến thuộc làm lễ trà tỳ nhục thân sư phụ, lượm xá lợi, xây tháp cúng dường.
Vâng lời tổ dạy, ngài ở tại nước nhà giáo hoá chúng sinh, vị huynh đệ với ngài là Phật Đại Tiên cùng chung sức với việc hoằng pháp độ sinh. Người ta nói: “Hai ngài là hai vị hoạt Phật mở cửa cam lồ tấm mát thế gian nhiệt não!”


 Vua Nguyệt Tịnh băng, con vua là thái tử Dị Kiến nối ngôi, không bao lâu sau vua lại tin theo ngoại đạo bài bác Phật giáo. Ngài cho đệ tử là Ba La Đề đến cung vua nhiếp hóa. Sau khi trở về phật giáo, vua Dị Kiến mới biết Ba La Đề là đệ tử của chú mình. Nhà vua cho người thỉnh ngài về hoàng cung giáo hóa một thời gian; thấy cơ duyên sang Trung Hoa đã đến, ngài đem lời huyền ký của Tổ Bát nhã Đa La thuật lại cho vua biết. Vua không thể can ngăn, đành sắm một chiếc thuyền buôn cho thủy thủ đưa ngài vượt biển sang Trung Hoa; vua và quần thần, đệ tử tiển đưa ngài đến cửa biển: ngài ở trên thuyền gần ngót ba năm, thuyền mới cặp bến Quảng Châu, nhằm đời Lương, niên hiệu phổ thông năm thứ nhất (520 sauTC),ngày 21/09 năm canh tý, quan Thứ Sử tỉnh này ra đón tiếp ngài, dâng sớ về triều tâu lên Lương Vũ Đế, vua được sớ sai sứ lãnh chiếu chỉ thỉnh ngài về Kim Lăng ( kinh đô nhà Lương) cúng dường, vua Vũ Đế hỏi:
-Trẩm từ lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng rất nhiều, vậy có công đức gì không? Sư đáp: “đều không có công đức, tại sao ? Bởi vì những việc vua làm là nhân hữu lậu, chỉ có tiểu quả trong vòng Nhân - thiên như ảnh tuỳ hình, tuy có phúc đức  nhưng không phải thật.” Vua hỏi:
-Thế nào là công đức chân thật?-Sư đáp: Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc xây chùa, chép kinh, độ tăng cầu được. - Vua hỏi
-Thế nào là Thánh Đế Đệ Nhất Nghĩa? - Sư đáp:
-Một khi đã tỉnh rõ, thông suốt rồi, không có chi gọi là Thánh
( Quách Nhiên Vô Thánh).
-Ai đang đối diện với trẩm đây?
-Tôi không biết.
Vua Võ Đế không lãnh ngộ được, lòng không vui, lui về nghỉ, sư biết tâm vua không kết hợp pháp mình, vì vậy đến ngày 19/10 năm ấy, sư qua Giang Bắc, đến 23 tháng 11, sư sang Lạc Dương. Đến đời Hậu Ngụy, vua Hiếu Minh, năm Thái Hòa thứ 10, sư lên Tung Sơn, vào chùa Thiếu Lâm, ngồi ngó vách, trọn ngày làm thinh. Người đời không hiểu gì cả, gọi sư là “Bích Quán Bà La Môn”, nghĩa là ông Bà La Môn ngó vách.
Về sau vua Lương Võ Đế được Chí Công Hòa thượng, một cao tăng đắc đạo, cho biết Bồ Đề Đạt Ma là Quán Âm Đại Sĩ truyền tâm ấn Phật, lời thầy nói là chân lý, vua Vũ Đế cho sứ đến chùa Thiếu Lâm thỉnh cầu, thì Tổ Sư Đạt Ma đã nhập thất. Mẫu đối thoại kỳ đặc trên được Đức Lục Tổ quyết Nghi cho Vi Thứ Sử, Pháp Bửu Đàn Kinh, phẩm III như sau: “....cất chùa, chép kinh, độ tăng bằng cách đãi chay làm phước là phước đức, công đức phải thấy trong bản tánh mình. Phước đức và công đức khác nhau”, rõ là vua Lương Vũ Đế không am tường phật lý.
Có vị tăng tên Thần Quang, học thông các kinh sách, giỏi lý diệu huyền, nghe danh ngài tìm đến yết kiến. Thần Quang đã đủ lễ nghi mà ngài vẫn ngồi im lặng ngó vào vách. Quang nghĩ: “Người xưa xả thân cầu đạo, nay ta chưa được một trong muôn phần của các ngài”. Hôm ấy nhằm tiết mùa đông ( mùng 9 tháng chạp), ban đêm tuyết rơi lả tả, Thần Quang vẫn đứng yên ngoài trời chấp tay hướng về ngài. Đến sáng tuyết ngập lên khỏi đầu gối, gương mặt Thần Quang vẫn thản nhiên. Ngài thương tình xoay ra hỏi:
- Ông đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì ?
Thần Quang thưa:
- Cúi mong Hoà thượng từ bi mở cửa cam lồ rộng độ chúng sinh.
- Diệu đạo của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay, huống là dùng chút công nhỏ này cầu làm sao được pháp chân thừa ?
-  Thần Quang nghe sư quở, tự lấy dao bén chặt đứt cánh tay trái, để tỏ lòng thành khẩn cầu đạo, Tổ sư biết đây là pháp khí (một khí dụng tốt để truyền bá chánh pháp) nên nói:
- Chư Phật ban sơ phát tâm cầu đạo dám bỏ thân, ông nay chặt tay trước mặt tôi, vậy ông muốn cầu gì ?
- Pháp ấn của Chư Phật con có thể được nghe chăng?
- Pháp ấn của Chư Phật không thể từ người khác mà được.
- Tâm con chưa an, xin thầy dạy pháp an tâm.
- Ngươi đem tâm ra đây ta an cho.
- Con tìm tâm không thể được.
- Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
- Thần Quang nhơn đây được giác ngộ, ngài đổi tên Thần Quang là Huệ Khả. Từ đây kẻ tăng người tục đua nhau yết kiến ngài, tiếng tâm vang dậy. Vua Hiếu Minh Đế nước Ngụy sai sứ ba phen cầu thỉnh, ngài đều từ chối. Nhà vua càng kính trọng, sai sứ đem lễ vật cúng dường: Một cây tích trượng, hai y kim tuyến, một bình bát,.....thấy vua có lòng thành ngài phải nhận. Ngài mở cửa phương tiện nói pháp để giáo hóa môn đồ, người người cảm mến qui y Tam Bảo.
Chín năm trôi qua, kể từ khi đến Trung Quốc, sư có ý muốn hồi hương, nên gọi các đệ tử đến nói:
- “Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy nói cho ta nghe sở đắc của mình.
Đạo phó ra bạch:
-“Theo chỗ thấy của con, muốn thấy đạo, phải chẳng chấp văn tự, cũng chẳng lìa văn tự.
Sư đáp:
- Ông được lớp da của tôi rồi.
Tổng Trì Ni nói:
- “Chỗ giải của con, như Tổ A-Nan mừng vui thấy nước Phật A Súc Bất động được một lần, sau không còn thấy lại nữa. - Sư nói: - Bà được phần thịt của ta!
Đạo Dục thưa:
- Bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải thật có, chỗ của con không một pháp nào khá được.
Sư nói:
- Ông được bộ xương của tôi rồi !
Sau cùng, tới phiên Huệ Khả, Huệ Khả lễ bái sư rồi đứng im lặng ngay tại chỗ, không bạch, nói gì cả. Sư bảo:
- Ông được phần tuỷ của tôi.
Ngài gọi Huệ Khả đến dặn dò:
- Xưa Như Lai trao “chánh pháp nhãn tạng” cho ngài Ca Diếp, từ đó Chánh pháp được liên tục truyền đến ta. Ta nay trao lại cho ông, ông khá nắm giữ, luôn với áo cà sa để làm vật tin. Mỗi thứ tiêu biểu cho một việc ông nên khá biết.- Huệ Khả bạch:
- Xin thầy từ bi chỉ bảo mọi việc.
Tổ bảo:
- Trong truyền tâm  ấn để khế hợp chỗ tâm chứng, ngoài trao cà sa để định tông chỉ. Đời sau có người cạnh tranh nghi ngờ, họ nói: “Ta người Ấn, ông là người Hoa, căn cứ vào đâu mà được pháp, lấy gì để minh chứng?”Ông gìn giữ pháp y này đem ra làm biểu tín, thì sự giáo hoá không bị trở ngại. Hai trăm năm sau ta diệt độ, y bát dừng không truyền, vì lúc đó Phật pháp thạnh đấu tranh, người hiểu đạo nói lý rất nhiều, người hành đạo và thông lý rất ít. Tuy nhiên người thầm thông lặng chứng cũng có, vậy ông nên cố xiển dương đạo pháp, đừng khinh người chưa ngộ. Hãy nghe ta nói kệ:
Ngô bổn lai tư thổ
Truyền pháp cứu mê tình
Nhất hoa khai ngũ diệp
Kết quả tự nhiên thành
Nghĩa:
Ta sang đến cõi này
Truyền pháp cứu mê tình
Một hoa nở năm cánh
Nụ trái tự nhiên thành
Sư lại nói thêm: “Ta có bộ kinh Lăng Già 4 cuốn, nay cũng giao luôn cho ông, đó là đường vào tâm giới, giúp chúng sinh mở được kho tri kiến của Phật. Ta từ Nam Ấn đến phương đông này, thấy Xích Huyện Thần Châu (Trung Quốc), có đại thừa khí tượng, nên vượt qua nhiều nơi, vì pháp tìm người. Nay được ông để truyền thọ y pháp, chí ta đã toại ! Nói xong, sư cùng đệ tử đến chùa Thiên Thánh, lưu lại ba hôm. Có người tên Thành Thái, tự Dương Huyễn Chi, sớm mộ phương tu thành phật đến hỏi:
- Nghe sư bên Tây Thiên, thừa tiếp pháp Ấn làm tổ, vậy xin dạy cho con biết đường đưa đến tổ vị như thế nào ?
Sư đáp:- Sáng tỏ Phật tâm, nói làm phù hợp đó gọi là tổ.
- Ngoài ra còn gì không ?
- Nên sáng tâm người, biết rành kim cổ, chẳng chán có không, đối đáp chẳng nắm, chẳng hiền, chẳng ngu, không mê không ngộ; giải được như thế đáng xưng là tổ.
Thành Thái lại hỏi:- Đệ tử thành tâm quy y Tam bảo đã mấy năm rồi, nhưng trí tuệ còn mù mờ, chân lý chưa rõ. Cúi xin Sư từ bi khai mở đường tu cho gần với Phật tổ. Ngài vì ông nói kệ:
Diệc bất đổ ác nhi sanh hiềm
Diệc bất quán thiện nhi cần thố
Diệc bất xả trí nhi cận ngu
Diệc bất phao mê nhi tựu ngộ
Đạt đại đạo hề quá lượng
Thông phật tâm hề xuất độ
Bất dữ phàm thánh đồng triền
Siêu nhiên danh chi viết tổ.
Dịch nghĩa:
Cũng đừng thấy dữ mà sanh chê
Cũng đừng thấy lành mà ái mộ
Cũng đừng bỏ trí mà gần ngu
Cũng đừng vứt mê cầu ngộ
Được vậy thì:
Đến đại đạo to vô lượng
Thông phật tâm muốn cứu độ
Chẳng cùng phàm thánh sánh vai
Vượt trên đối đãi gọi đó là tổ
Thành Thái, nghe kệ nửa vui nửa xót bạch:
- Xin Sư ở lâu  nơi thế gian để hoá độ chúng hữu tình.
Sư nói:- Ta sắp đi đây, không thể ở lâu; người đời căn tánh muôn sai, ta đã gặp nhiều hoạn nạn rồi.
Thành Thái:
- “Ai làm hại sư, xin cho biết, đệ tử nguyện trừ.”
Tổ nói:
- Ta đã đem bí mật của Phật ra truyền để lợi ích chúng sanh, nay hại người để mình an, làm sao có lý ấy đặng ?
- Sư chẳng nói thì lấy gì tiêu biểu cho sức thông biết khắp cùng của sư ?
Sư đọc một bài kệ sau đây có tính cách như một bài sấm:
Giang tra phân ngọc lãng
Quản cự khai kim toả
Ngũ khẩu tương cộng hành
Cữu thập vô bỉ ngã
Dịch:
Thuyền lướt, chia sóng ngọc
Đuốc nêu, mở khóa vàng
Năm miệng ta cùng khứ
Chín, mười hết ta, chàng.
Thành Thái không hiểu gì cả, chỉ gắn ghi vào lòng rồi tạ từ lui gót.
Bài sấm của sư đương thời không ai độ được, nhưng về sau có phần ứng nghiệm. Dưới thời nhà Ngụy kẻ anh tài chống lại Thiền môn rất nhiều, nào là Quan Thống Luật Sư, Lưu Chi Tam Tạng ... thấy Sư lấy tâm làm trọng, các vị đã cùng Sư luận nghị mấy phen nhiệt liệt, trong khi ấy xa gần, sư đều cho nổi lên một trận huyền phong và đổ xuống một trận mưa pháp, chan hòa ban rảii khắp nơi, sự thành công vẻ vang này kích thích kẻ ác gia tâm làm thuốc độc hại sư.
Trên thực tế, sư đã bị thuốc 5 lần, đến lần thứ 6, thấy sứ mệnh hoằng hóa đã hoàn thành, công việc truyền pháp cũng đã có người, sư không tự cứu nữa, ngồi an nhiên thị tịch. Hôm ấy là ngày mùng 9 tháng 10 năm Bính Thìn, nhằm niên hiệu Đại Thông năm thứ 2, nhà Lương ( 529 TC), ( năm Thái Hòa thứ 19, đời Hiếu Minh Hậu Ngụy). Đến ngày 28 tháng chạp cùng năm, nhục thể của Sư được nhập tháp tại chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ. Đúng như lời sấm của sư, câu “Ngũ khẩu tương cộng hành”, vì ghép chữ ngũ () trên chữ khẩu (), thành chữ ngô (), câu này có nghĩa là “Ta sẽ đi”. Còn câu chót “Cửu thập vô bĩ ngã”. Sư nói trước ngày viên tịch: mồng 9 tháng 10.
Ba năm sau, Tống Vân qua nhà Ngụy, đi sứ Tây Vức về, gặp Sư Đạt Ma tại ngọn núi Thông Lãnh, thấy Sư tay cầm một chiếc dép, một mình đi mau như bay, Tống Vân hỏi:
- Sư đi đâu đó ?
Sư  đáp: -Ta về Tây phương - Sư lại nói thêm
- Chủ  của ông đã chán đời rồi.
Tống Vân sững sờ, từ giã ngài về phục mạng thì ra vua Minh Đế đã băng hà, Hiếu Trang Đế lên ngôi, ông đem việc ấy tâu lại, vua lệnh mở cửa tháp dở nấp quan tài ra, quả nhiên là quan tài không, chỉ còn một chiếc dép. Vua sắc đưa chiếc dép về thờ ở chùa Thiếu Lâm. Đến đời Đường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ 15, nhằm năm Đinh Mão (728, sau TC) môn đồ đòi chiếc dép về chùa Hoa Nghiêm, đến nay không biết còn mất ở đâu.
Vua phong ngài hiệu Viên Giác Thiền Sư, pháp hiệu Không Quán.
Theo truyền thuyết, Ngài vượt sông Dương Tử trên một lá lau, tích này về sau trở thành một chủ đề ưa thích  của hội họa thiền.
Tác phẩm của ngài:
- Đạt Ma Hoà Thượng Tuyệt Quán luận
- Nam Thiên Trúc, Bồ Đề Đạt Ma Thiền Sư quán môn (Đại thừa pháp luận)
- Thiếu thất lục môn tập
- Thích Bồ Đề Đạt Ma vô tâm luận
- Thiền Môn Nhiếp yếu
-Thiếu Thất Dật thư..vv..
Từ điển Phật học Huệ Quang:- “Theo sự khảo cứu các tư liệu đào được ở Đôn Hoàng, các học giả cho rằng: Trong các tác phẩm để lưu truyền học thuyết của Đạt Ma xưa nay hình như chỉ có Luận Nhị Nhập tứ hạnh là bộ luận mang tư tưởng chân chính của Bồ Đề Đạt Ma”.
2. Hình ảnh biểu trưng
Nói đến Bồ Đề Đạt Ma, là người ta nghĩ ngay đến một vị Sư hình tướng dậm vỡ, mặc áo tràng màu đen, quần nâu, trên vai quảy một chiếc gậy treo tòn ten một chiếc dép, mặt mày nghiêm khắc, râu ria xồm xàm, đôi mắt sáng quắc tinh anh, đứng trên một lá lau phiêu diêu trên sóng gió. Hình tượng này được thờ kính trang nghiêm nơi hậu tổ phía sau chính điện thờ Phật của đại đa số chùa chiền Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản..vv..biểu tượng ngài là một vị tổ sư quan trọng trong các vị tổ được truyền y bát thay Phật hoằng hóa chúng sinh.
Sông biển là môi trường sinh sống của các loài thủy tộc hiền và dữ, nơi có sóng to gió lớn đe dọa mạng sống con người. Theo Kinh Đại Bát Nhã, phẩm Thường Đề bồ Tát, “Sông biển cũng thường phát sanh châu ngọc. Châu ngọc không từ đâu đến, cũng không đi về đâu, chân tâm thanh tịnh của Phật và chúng sanh cũng thế.” Cây bồ đề giác ngộ phải bám sâu vào mãnh đất khổ đau mới đứng vững giữa cuộc đời  nhiều giông gió hứng chịu nắng mưa che bóng mát cho người. Ngài đứng trên sóng gió oai nghi hùng dũng, điểm tựa là cành lau nhỏ bé nói lên người giác ngộ giải thoát thân thể nhẹ nhàng, như hoa sen tự tại trên ao hồ tỏa ngát hương thơm. Chiếc gậy tượng trưng cho thiền pháp, gậy thiền. Một chiếc dép tượng trưng cho giáo lý không hai, chúng sanh là Phật.
Nhà họa sĩ, điêu khắc kết hợp ý nghĩa biểu trưng, việc ngài mới đến Trung Hoa, vua Lương Vũ Đế, một đại cư sĩ xây cất nhiều chùa, độ nhiều chúng tăng, hiểu giáo nghĩa uyên bác, giảng pháp hay  đến chư Thiên rắc hoa cúng dường, mà chưa thật chứng, nên bái thỉnh tổ sư giải đáp câu hỏi:- “Thế nào là đệ nhất nghĩa thánh đế? -Sư đáp:- Một khi đã tỉnh rõ thông suốt rồi, không có chi gọi là thánh”. (Quách nhiên vô thánh). Vua Vũ Đế không lãnh hội được, lòng không vui. Sau đó Tổ sư đứng trên một lá lau vượt sông Dương Tử vào đất Ngụy lên núi Thiếu thất, ngồi nhìn vách chùa Thiếu Lâm đến chín năm. Đoạn cuối đời sau khi ngài thị tịch khoảng ba năm, sứ giả Tống Vân thấy sư ở núi Thông Lãnh tay cầm một chiếc dép đi về hướng tây như bay. Biểu tượng ấy nói lên tư tưởng ngài nhất quán, trước sau như một là: “Thiền tổ sư truyền ngoài giáo điển, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”.
3. Ý nghĩa hiện thực
Ước mơ lớn nhất của đời người là sống an tâm hạnh phúc. Qua sự giải đáp khai thị cho sư Thần Quang Huệ Khả về yếu chỉ của Thiền Tông Tâm ấn, chúng ta thấy rõ hiện thực tâm lý của Phật giáo đồ trưởng thành là an tâm trong sinh tử. Lịch sử con người từ thuở hồng hoang đến nay văn minh tiến bộ, có phải luôn luôn khủng hoảng trong hòa bình và trong chiến tranh ! Chiến tranh thì sợ nghèo đói huỷ diệt sinh mạng, của cải. Kẻ thắng kiêu hãnh, người bại hổ người. Hòa bình thì tranh giành địa vị, khủng bố tâm lý cạnh tranh sang hèn vinh nhục. Chung quy cũng vì sự tham muốn hưởng thụ quá đáng của một số người ích kỷ. Tám điều khổ của Diệu Đế thứ nhất, phàm nhân không ai tránh khỏi.
Muốn hết khổ được an tâm người ta thực hiện nhiều phương cách kinh tế, khoa học, văn chương, triết học, tôn giáo, chính trị, quân sự.vv..nhưng được gì?- khổ đau, hoảng loạn, bất an vẫn tồn tại trong cuộc sống. Trong đạo Phật, các phương pháp tu hành của nhiều tông phái, cuối cùng cũng đến an tâm trong sinh tử. Riêng ý của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma là phải nhìn xuyên thấu tâm mình. Tâm chúng sinh có chơn và vọng. Biết được chơn vọng thực tướng, thực tính vẫn là “không”, siêu khỏi nhận thức này thì thành Phật. “ Chẳng cùng phàm thánh sánh vai, vượt lên trên mới gọi là tổ”. Tổ hiểu biết  như Phật, an tâm hạnh phúc.
4. Ý nghĩa tâm linh
Ngài sinh ra đã có túc nghiệp tốt. Phúc đức lớn được sinh vào cung vua làm Hoàng Thái Tử, sống trên nhung lụa học hành chu đáo, được bái kiến Tổ sư Bát Nhã Đa La, cúng dường nghe pháp buổi đầu tiên là trí tuệ phát sáng. Tiến trình tư tưởng tâm linh ngài trong suốt nhạy bén từ thuở còn niên thiếu khi bàn về giá trị bảo châu và trí tuệ:- “Có trí tuệ người ta mới nhận ra bảo châu quý báu. Trong các thứ trong sạch chỉ có tâm trong sạch là hơn hết. Như tâm Tổ sư trong sạch sáng tỏ báu kia liền hiện”. Rồi ngài so sánh vật có tướng và vô tướng:- “Tâm chẳng khởi là vô tướng”. Cuối cùng Bồ Đề Đa La cũng giải được câu hỏi tối yếu của Tổ sư:- “Trong các vật pháp tánh là tối đại”. Nghiên cứu qua đoạn tiểu sử này chúng tôi có cảm nghĩ ngài đã ngộ đạo trước khi xuất gia được truyền tâm ấn Phật !
Ngài cũng là người con chí hiếu. Khi phụ hoàng qua đời khác, ngài nhập định nâng đở thần thức cha sinh vào cõi lành đến 7 ngày đêm, không mời thỉnh chư tăng tụng kinh niệm Phật cầu siêu theo lẽ thường trong phật giáo tín ngưỡng.
Nhận thức rõ nỗi khổ của chúng sanh và tâm an lạc xuất thế, ngài không lưu luyến ngai vàng ngôi báu, quyết chí xuất gia tu học, xứng đáng được truyền tổ vị, lãnh thọ Y bát làm chứng tín truyền pháp độ sanh.
Tâm lý ngài được biểu lộ siêu thoát khẳng định qua mẫu đối thoại với vua Lương Vũ Đế: “Một khi đã tỉnh rõ, thông suốt rồi, không có chi gọi là thánh”. Đối với Thần Quang, ngài không luận giải “tính không” mà chỉ thẳng chân không diệu hữu là như thế: “Ngươi hãy đem tâm ra đây ta an cho – Con tìm tâm không thể được – Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Nét đặc sắc của Bồ Đề Đạt Ma qua sự khai thị giáo huấn là như thế đó. Vì phân biệt, luận giải, chứng minh dễ làm người nghe rơi vào thiên chấp, không thể lãnh hội làm sao sống với tâm linh siêu việt như  Phật. Mà tâm linh này ai cũng có, sở dĩ người ta cam phận làm chúng sinh vì không chịu học hỏi, khai thác, sử dụng mà thôi.
5. Tiểu sử đời Ngài rất có ý nghĩa soi gương
Đối với người muốn tìm kiếm hạnh phúc siêu thế. Ngài đã tìm được hạnh phúc ấy và sống như thực suốt cả cuộc đời trên nhân gian này.- Đã xuất thế ly trần, ngài vẫn còn quan tâm đến người cháu là Dị Kiến, làm vua không chánh kiến ảnh hưởng xấu đến quốc dân, nên tìm cách giáo hoá. Tám mươi tuổi còn lên thuyền vượt biển sang Trung Hoa tìm mảnh đất tốt cho hạt giống bồ đề nẩy nở. Nhờ công đức truyền bá của ngài và những truyền nhân nối tiếp, ngày nay khắp nơi trên thế giới ít nhiều gì cũng có người tu tập thiền pháp sống an tâm hạnh phúc. Tâm từ bi trí tuệ của ngài biểu hiện rõ nét khi nghe Thành Thái nguyện trừ kẻ làm hại sư -Sư nói: “ Ta đã đem bí mật của Phật ra truyền để lợi ích chúng sinh, nay hại người để mình an, làm sao có lý ấy đặng!”
Trong số các tác phẩm của ngài lưu thông xưa nay, được dịch ra nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Việt, Nhật..vv..Phổ thông nhất là bản pháp luận Nhị Nhập Tứ Hạnh, cũng gọi là Nhị Chủng Nhập, hai yếu tố chính nhập đạo thiền, tổng quan được các pháp tu của Phật giáo như sau:
- Lý nhập: là mượn giáo để ngộ vào Tông, tâm Tông. Tin sâu tất cả chúng sanh đều cùng một chân tánh, vì khách trần bên ngoài, vọng tưởng bên trong che lấp nên chân tánh không hiển lộ được. Nếu bỏ vọng về chân, tinh thần ngưng trụ như vách đá, không phân biệt ta-người, thánh phàm một bậc như nhau; cũng không lệ thuộc văn giáo, ngầm hợp với lý vô vi vắng lặng hồn nhiên gọi lý nhập.
- Hạnh nhập: Cũng gọi Tứ hạnh nhập: 1- Báo oán hạnh:- Người tu hành gặp khổ không buồn. Dù hiện tại mình không có lỗi, lãnh quả khổ là do sai lầm nhiều kiếp trước. Chấp nhận nương theo đó tu gọi là Hạnh trả oán. 2-Tuỳ duyên hạnh:- Chúng sanh do nghiệp chuyển thành, chẳng có cái tôi tự chủ, nên gió vui chẳng động, lặng lẽ tùy thuận hành đạo. Gọi Tùy duyên hạnh. 3- Vô sở cầu hạnh:- Mê đắm tham trước gọi là cầu. Kinh nói: “Còn cầu còn khổ, hết cầu mới được vui”.Bậc trí ngộ được lẽ chân, chuyển ngược thế tục, tâm an trụ vô vi, thân hình tùy nghi vận chuyển, gọi hạnh Không cầu mong. 4- Xứng pháp hạnh:- Lý thanh tịnh của tự tánh gọi là pháp. Tin hiểu được lẽ ấy, mọi hình tướng hóa thành không; hết nhiễm trước, hết chấp hai bên. Kinh nói: “Pháp không có chúng sanh, hãy lìa chúng sanh cấu, pháp không có tướng ngã, hãy lìa ngã cấu”. Bậc trí tin hiểu như thế tùy xứng theo pháp hành động, gọi Xứng pháp hạnh.”
Lý nhập liên quan đến đốn ngộ, hạnh nhập là nội dung của tiệm tu. Tiệm tu đốn ngộ, đốn ngộ tiệm tu bao gồm Yếu chỉ Thiền tông tâm pháp. Pháp thiền này nhiều thành phần xã hội trong các quốc gia trên thế giới ai cũng có thể tu được!- Có một số người biết ngài chín năm ngồi nhìn vách đá (cữu niên diện bích), cho rằng oai nghi lẫm liệt ấy khó tu theo là thiếu nghiên cứu, tư tưởng ngài rất thoáng tùy theo căn cơ hướng dẫn chúng sanh tu tiến đến nơi an lạc nội tâm.
6. Nhận xét
Tôn giáo nào trên thế giới cũng có giáo điều, tín ngưỡng, thần thoại. Đạo Phật cũng thế, nhưng Tổ sư Đạt Ma, truyền nhân trứ danh của đức Phật, pháp tu của ngài luôn được trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật soi sáng một thứ nội lực kỳ đặc phá tan các chướng ngại tri kiến, phiền não; khẳng định đạo Phật là một tôn giáo không tôn giáo. Kể từ khi ngài xuất gia tu học, nhận lãnh y bát, truyền bá phật pháp đến khi viên tịch, trí tuệ siêu nhân toả sáng qua phong cách hành sử giản dị, uy đức tự tại.
Nếu nói tín ngưỡng, Phật giáo đồ tin tưởng ngưỡng mộ ngài là người tu hành nghiêm túc, thẳng thắng, hiền thiện minh triết.- Thần thoại, việc ngài qua sông trên một lá lau, bị đầu độc sáu lần không chết, sau khi viên tịch thân xác vùi sâu trong lòng đất còn hiện thân tướng quảy một chiếc dép nơi đầu gậy Thiền gác trên vai đi như bay trên ngọn thông lãnh..vv..Đối với một tu sĩ Phật giáo có thâm độ công phu phát triển thần thông không phải là chuyện lạ. Nhưng các nhà viết truyện, làm phim thấy lạ tô vẽ gần như hoang tưởng- Giáo điều, ngài không để lại một điều răn cứng ngắt nào ngoài những bản pháp luận khuyến tu dạy tu. Nhưng truyền thống Phật giáo tu Thiền hay tu pháp môn nào cũng có giới pháp. Thọ trì giới pháp cũng do tự nguyện.
Tuy khẩu hiệu của Ngài như một lá cờ phất thẳng là: “Giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Ngài không rơi vào cực đoan thiên chấp, những thiền bản của ngài rất thích hợp với kinh điển Phật giáo, nhất là kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật, Lăng Già Tâm Ấn .v.v…
Tóm lại, thân thế, sự nghiệp, tư tưởng, phong cách của ngài rất xứng đáng cho người có hoài bão lớn soi gương sống thiền an tâm hạnh phúc cho bản thân, thân quyến và chúng sinh nhân loại hoàn thiện tư cách hiền thiện, minh triết, an lạc.
          Tham khảo theo:
- Pháp Bửu Đàn Kinh  - HT Minh Trực. THPG. HCM. 1994
- Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa - HT. Thanh Từ. Tu viện Chơn Không xb.1971
- Sáu cửa vào Động Thiếu Thất - Bản dịch Trúc Thiên. THPG. HCM.1997
- Từ Điển Phật học Huệ Quang tập I - NXB. TP Hồ Chí Minh. 2002
- Từ Điển Phật Học Hán Việt - NXB. Khoa Học Xã Hội. Hà Nội 1998
- Từ Điển Minh Triết Phương Đông - NXB. Khoa Học Xã Hội. Hà Nội 1997  (Bouddhisme - Hindonissme - Taoisme - Zen. Robert lafont - Paris 1991)
- Tiểu sử sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma  - Chánh Trí

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét